*biên dịch bởi LÊ HOÀNG THẠCH*

ĐỈNH CAO CỦA CƠ KHÍ HOÀN HẢO

Lịch sử 120 năm chế tạo đồng hồ của seiko đã cho phép hãng làm chủ được tất cả các khía cạnh của nghệ thuật chế tạo. Từ những chi tiết siêu vi cho đến kĩ thuật đánh bóng. Những loại kĩ năng này được thể hiện rõ nét nhất trong phạm vi đồng hồ cơ khí cao cấp dành cho thị trường nội địa, cho tới hiện tại vẫn bị hạn chế bởi nhu cầu vượt quá khả năng cung ứng.

TRÊN THẾ GIỚI, SEIKO LÀ TỐT NHẤT

Ngày nay seiko chủ yếu được biết tới bởi những chiếc đồng hồ thạch anh, nhưng trong thị trường nội địa từ lâu hãng đã được hưởng một danh tiếng xứng tầm cho sự xuất sắc của đồng hồ cơ khí. Các sản phẩm được làm ra không có bất cứ sự thỏa hiệp nào, và hoàn toàn ráp bằng tay để đảm bảo các tiêu chuẩn thủ công cao nhất có thể.

Grand seiko ( GS) là tên của dòng sản phẩm biểu trưng cho sự đỉnh cao của đồng hồ cơ khí nhật bản. Chúng được ra mắt lần đầu vào năm 1960, khi seiko đã sản xuất được một sản lượng lớn đồng hồ cơ khí và đã đạt được thành công xuất sắc tại các cuộc thi chính xác ở thụy sĩ. Công ti đã cho xuất xưởng các bộ sưu tập super, marvel, cronos, crown và lord marvel.

BẢN MẪU ĐẦU TIÊN

những phiên bản grand seiko đầu tiên đã được phát triển để phục vụ cho dòng cao cấp của seiko trên thị trường đồng hồ đeo tay nhật bản. Công việc phát triển bắt đầu. Khi các nhà máy đồng hồ daiwa kogyo và daini seikosha suwa được sát nhập thành suwa seikosha, sau này trở thành seiko epson minh chứng cho sự thành công của các kĩ thuật viên làm việc tại tỉnh nagano,  cách xa tokyo và gần với dãy núi alps của nhật bản. Họ đã phát triển nên một loại đồng hồ seiko đầu bảng. Chiếc grand seiko đầu tiên ra mắt vào năm 1960, trong 15 năm tiếp theo,  dòng grand seiko đã biến thành bộ sưu tập tốt nhất mà seiko từng sản xuất.

                                                            bản mẫu grand seiko đầu tiên

Sự phát triển của grand seiko ban đầu đặt dưới sự chỉ đạo của tsuneya nakamura,  người đã gia nhập công ti vào năm 1944 và thiết kế ra marvel, chiếc này được tung ra thị trường vào năm 1956.nó chính xác hơn nhiều so với những chiếc đồng hồ có mặt khi đó và đã minh chứng cho một sự thành công lớn. Ngay cả như vậy,  ông đã có một ý tưởng tạo ra một chiếc “đồng hồ lí tưởng”. Grand seiko đã được tạo ra như là một mô hình với các đặc điểm kĩ thuật đi đến giới hạn, và công ti đã xác định rằng nó phải là sản phẩm tốt nhât trên thế giới. Do đó,  không có gì đáng ngạc nhiên,  nó đã trở thành biểu tượng của seiko. Bởi trong thời gian này, họ đã phát triển các kĩ năng kĩ thuật cần thiết cho một dự án đầy tham vọng và kinh nghiệm của họ kèm theo thành công trong nước cho phép các kĩ năng của họ được trui rèn. Tất cả các kĩ thuật viên liên quan đến dự án phát triển grand seiko đều biết rằng mục tiêu của họ là phải vượt qua các tiêu chuẩn của chronometer thụy sĩ,  và do đó các kĩ năng mà họ đạt được trong quá trình phát triển độ chính xác đã được sử dụng để dành cho việc sản xuất quy mô lớn. Công ti đã thiết lập cho nhãn hàng grand seiko một tiêu chuẩn cao hơn bất kì một chiếc đồng hồ nào từng được sản xuất trước đó từng đạt chronometer nhật bản, đây chính là chìa khóa để mở ra một tham vọng.

Nguyên bản cụm từ “chronometer” ám chỉ đồng hồ có độ chính xác rất cao. Nó được ghép từ 2 chữ hi lạp xưa là chronos và metron, có nghĩa là “đo thời gian”. Hệ thống kiểm soát chronometer thụy sĩ chính thức hiện nay có tên là controle officiel suisse des chronometer ( COSC)  là nơi đặt ra các tiêu chuẩn về chronometer, đây là một hiệp hội độc lập được quản lí bởi bộ luật dân sự thụy sĩ và thành lập vào năm 1973. Trước đó việc thực hiện thử nghiệm chronometer được làm bởi các tổ chức khác.

Năm 1968, một tổ chức được gọi là japan chronometer certification instute đã được thành lập để cung cấp dịch vụ chứng nhận chronometer. Chiếc đồng hồ đầu tiên được chứng nhận bởi cơ quan mới này là chiếc king seiko sản xuất lần đầu vào năm 1969.những chiếc đồng hồ grand seiko đã không được đưa tới để chứng nhận bởi vì chúng được sản xuất theo tiêu chuẩn “GS” của công ti. Nó đòi hỏi nhiều hơn so với các bài kiểm tra độ trễ của thụy sĩ và bao gồm kiểm tra tốc độ đồng hồ ở 6 vị trí thay vì 5 như bình thường. Ông nakamura tin rằng sự thành công của thế hệ đầu tiên của grand seiko có thể là do 3 yếu tố quan trọng : tính chính xác, tính dễ sản xuất và vẻ đẹp.

Trong những năm đầu tiên của cuộc cách mạng thạch anh. Việc sản xuất grand seiko đã bị đình chỉ dần,  và cuối cùng chấm dứt vào năm 1975 khi tính chính xác và độ tin cậy của đồng hồ thạch anh seiko đã dẹp nhu cầu của công chúng về đồng hồ cơ khí sang một bên. Việc sản xuất đồng hồ cơ khí gần như đã bị hủy bỏ trong 10 đến 15 năm đầu tiên của kỉ nguyên cách mạng thạch anh ở thụy sĩ. Các nhà máy đồng hồ truyền thống bị đóng cửa hoặc phải chuyển đổi sang mô hình thích hợp với việc sản xuất đồng hồ thạch anh. Nhiều nhà sản xuất không thể sử dụng các thiết bị sản xuất truyền thống của họ,  và phần lớn chúng đều bị dẹp sang một bên. Hầu hết các thợ thủ công với những kiến thức cổ truyền từ nhiều thế hệ cũng bắt đầu phải dùng kĩ năng của mình cho một công việc khác. Các công ti thụy sĩ đã phải công khai thừa nhận sự sợ hãi của họ trong việc cạnh tranh tại thị trường đồng hồ thạch anh với các công ti đồng hồ đến từ nhật bản nói chung,  và seiko nói riêng. Trong những năm 1970 và đầu những năm 1980, tại nhật cũng như thụy sĩ, các nhà máy đồng hồ đều dồn toàn lực để sản xuất đồng hồ thạch anh.

Đến giữa những năm 1980, có một sự thay đổi dần dần và những cỗ máy thời gian cơ khí bắt đầu trở lại ánh đèn sân khấu một cách chậm chạp. Người thụy sĩ đáp trả bằng cách tập trung sự chú ý vào đồng hồ chạy bằng cót chất lượng cao, và nhiều công ti đã tập trung vào việc “tái tạo” những thứ xưa cũ, họ tạo ra các bản sao của một số phiên bản cũ tốt nhất mà họ từng chế tạo.

Trong khi đó,  danh tiếng của bộ sưu tập grand seiko tiếp tục phát triển đến mức nhu cầu thị trường yêu cầu cho một sự tái xuất. Kết quả là thế hệ thứ 2 của grand seiko được ra đời vào năm 1988, những chiếc này tung ra tại thị trường nội địa với những cỗ máy thạch anh bên trong,  nhưng họ đã thất bại trong việc thu hút ánh nhìn của thế giới. Đến năm 1993, một mô hình mới sử dụng cỗ máy thạch anh calibre 9F đã được tung ra với phong cách táo bạo, sắc sảo và có liên hệ với thế hệ grand seiko đầu tiên. Nó nhận được rất nhiều lời khen ngợi và mọi người đã nói ” cuối cùng thì cũng có một chiếc GS xuất danh tính” . nhiều người tin rằng một khi seiko tiến xa hơn,  thì họ sẽ không tránh khỏi việc sẽ phải đáp ứng nhu cầu tiếp theo đó là dòng grand seiko bằng cơ khí. Nhưng mặc dù lúc đó seiko đã bắt đầu giới thiệu những chiếc đồng hồ cơ khí mới , lại không có chiếc nào mang nhãn grand seiko.

Vào năm 1992, hãng đã bổ sung một chiếc đồng hồ đi kèm với mộ cỗ máy cơ khí vào dòng đồng hồ thanh lịch hạng sang, và tới năm 1995 đã tung ra một bộ sưu tập đồng hồ cơ khí có giá phải chăng tên là Laurel. Khi những chiếc đồng hồ lên cót tay biến mất dần dần trên thị trường nhật bản, seiko đã bổ sung thêm nhiều mẫu cơ khí cho các cấp độ bán hàng : họ đã cho ra đời chiếc credor chronometer,  với chứng chỉ chronometer thụy sĩ kèm theo cỗ máy credor chronogrpah,  nó là một cỗ máy được thiết kế mới hoàn toàn.

Cho đến nay, chắc chắn chỉ là vấn đề thời gian trước khi một mô hình cơ học được bổ sung vào thế hệ thứ 2 dành cho grand seiko. Người ta đã mong đợi sự trở lại của grand seiko cơ khí thế hệ thứ 2 của GS và họ phải mất tới 10 năm trước khi ước muốn trở thành hiện thực vào cuối 1998, tức là 24 năm sau lần bán cuối cùng. Sự nhận thức thương hiệu và thiện chí dành cho GS vẫn còn rất lớn.

LƯỢC SỬ HÃNG SEIKO-MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH VĨ ĐẠI ( CHƯƠNG 5- BÀI 1)
5 (100%) 1 vote

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here